Tập huấn chính sách mới về trợ giúp xã hội và nghiệp vụ phục hồi chức năng trợ giúp nạn nhân bom mìn và người khuyết tật tại Bình Định, Quảng Bình

Thứ năm, 16/07/2020

Thực hiện kế hoạch năm 2020 của Ban Điều phối chung dự án (JPCC) về việc triển khai cấu phần Hỗ trợ nạn nhân bom mìn, người khuyết tật thuộc hợp phần Hỗ trợ nạn nhân của Dự án “Việt Nam – Hàn Quốc hợp tác khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh”, Cục Bảo trợ xã hội vừa qua đã phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) và các đơn vị liên quan vừa qua đã tổ chức tập huấn chính sách mới về trợ giúp xã hội và nghiệp vụ phục hồi chức năng trợ giúp nạn nhân bom mìn và người khuyết tật tại 2 tỉnh Bình Định và Quảng Bình.

 

Một số chính sách mới về hỗ trợ người khuyết tật, nạn nhân bom mìn

Tham gia các buổi tập huấn, tại Bình Định từ ngày 30/6 – 3/7, có 188 học viên, tại Quảng Bình từ ngày 7 - 10/7 có 187 học viên là đại diện từ Phòng Bảo trợ xã hội thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Trung tâm Công tác xã hội, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện, cán bộ Văn hóa – Xã hội và cộng tác viên công tác xã hội cấp xã trực tiếp làm hỗ trợ người khuyết tật, nạn nhân bom mìn cùng đại biểu thuộc các quận/huyện và các xã/phường: TP.Quy Nhơn, An Nhơn, Tuy Phước, Hoài An, Hoài Nhơn, An Lão, Vĩnh Thạnh, Phù Cát, Vân Canh, Tây Sơn, Phù Mỹ, Đồng Hới, Ba Đồn, Minh Hoá, Bố Trạch, Lệ Thuỷ, Quang Ninh, Quảng Trạch và Tuyên Hoá.

Tại các buổi tập huấn, ông Nguyễn Trung Thành, đại diện Cục Bảo trợ xã hội đã cập nhật những thông tin chi tiết đến các cán bộ học viên liên quan đến Quyết định 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/2/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.

Một số điểm đáng lưu ý trong Quyết định 15/2020/QĐ-TTg với các đối tượng áp dụng là những người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012; Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia (chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ) trong danh sách rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2019 của địa phương và được cấp có thẩm quyền quyết định công nhận; Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thỏa thuận nghỉ không lương với người sử dụng lao động từ 14 ngày làm việc trở lên; Người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Lao động thực hiện trả lương ngừng việc cho người lao động theo Khoản 3 Điều 98 của Bộ Luật lao động.

 

Tiếp đến là các hộ kinh doanh cá thể có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm tạm ngừng kinh doanh theo Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ.Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; lao động không có giao kết hợp đồng lao động và mất việc làm.

Nhóm đối tượng BTXH trong Nghị định 136: Đang hưởng TCXH hàng tháng quy định tại Điều 5; Hộ gđ, cá nhân nhận nuôi dưỡng, chăm sóc đối tượng Bảo trợ xã hội, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp; Đối tượng bảo vệ khẩn cấp dưới 3 tháng ở cộng đồng; Đối tượng sống trong cơ sở TGXH trong và ngoài công lập; Đối tượng BTXH cần bảo vệ khẩn cấp. Đối tượng được hỗ trợ: Đang hưởng TCXH hàng tháng quy định tại Điều 5 Nghị định 136/2013 bao gồm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi, người khuyết tật, người đơn thân…

Ông Nguyễn Trung Thành cũng giải đáp một số thắc mắc của các đại biểu như theo mẫu danh sách kèm theo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg, đối tượng thụ hưởng phải ghi đầy đủ CMND. Tuy nhiên, thực tế hiện nay một số đối tượng người có công, đối tượng BTXH không có hoặc thất lạc CMND. Để giải quyết các trường hợp này, ông Thành cho biết trường hợp đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội trong tháng 4 nhưng không có CMND, thẻ căn cước công dân thì để trống. Địa phương căn cứ các loại giấy tờ chứng minh nhân thân theo quy định để thực hiện chi trả đầy đủ chế độ chính sách cho đối tượng.

 

Về vấn đề địa phương xây dựng biểu mẫu khác một số cột trong biểu mẫu thực hiện, tổng hợp báo cáo của nhóm đối tượng BTXH, hộ nghèo, hộ cận nghèo không làm phát sinh thủ tục hành chính, vừa đảm bảo công tác quản lý nhà nước, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ban hành một số biểu mẫu hướng dẫn thực hiện báo cáo theo nguyên tắc chung, phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan đến lĩnh vực bảo trợ xã hội, giảm nghèo hiện hành. Tùy điều kiện cụ thể, để thuận tiện cho công tác quản lý, địa phương có thể xây dựng biểu mẫu riêng nhưng phải bảo đảm đầy đủ thông tin, báo cáo theo quy định tại Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg.

Bên cạnh đó, với câu hỏi về các đối tượng BTXH trong danh sách chi trả tháng 4/2020, nhưng đã chết trước thời điểm rà soát, phê duyệt danh sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 42/NQ-CP có thuộc diện hỗ trợ hay không? Nếu có, hỗ trợ bao nhiêu tháng, thủ tục chi trả, ký nhận thanh quyết toán như thế nào? Ông Thành thông tin, những trường hợp đối tượng bảo trợ xã hội trong danh sách chi trả tháng 4/2020, nhưng đã chết trước thời điểm rà soát, phê duyệt danh sách theo Nghị quyết số 42/NQ-CP thì thực hiện hỗ trợ đối tượng 01 tháng (tháng 4/2020).

Ngoài ra, người có tuổi sinh tháng 3, tháng 4 /2020, người khuyết tật đã được cấp xã làm hồ sơ đề nghị hưởng chính sách trợ giúp xã hội nhưng do dịch COVID-19 nên bộ phận một cửa của cấp huyện dừng thực hiện 01/4-15/4, cấp huyện có trường hợp ban hành được quyết định, có trường hợp chưa ban hành được quyết định nhưng chưa có danh sách chi trả tháng 4/2020. Với những đối tượng có quyết định trong tháng 4 và quyết định ghi hưởng trợ cấp xã hội từ tháng 4 thì được hưởng hỗ trợ theo quy định tại Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 và Quyết định 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020. Quyết định sau tháng 4 thì không được hỗ trợ.

Một số đại biểu cũng đặt câu hỏi thêm về trường hợp đối tượng bảo trợ xã hội có Quyết định dừng trợ cấp và đã chi trả hết tháng 3/2020 của tỉnh khác chuyển hồ sơ về huyện vào tháng 4/2020 do dịch bệnh nên huyện chưa ban hành được quyết định tiếp nhận trong tháng 4 vậy trường hợp này có được hỗ trợ không? Ông Thành nhấn mạnh, trường hợp đối tượng bảo trợ xã hội có Quyết định dừng trợ cấp và đã chi trả hết tháng 3/2020 ở nơi ở cũ và chuyển hồ sơ về nơi ở mới vào tháng 4/2020 và Chủ tịch UBND cấp huyện nơi ở mới có Quyết định hưởng trợ cấp trong tháng 4 và Quyết định ghi hưởng trợ cấp xã hội từ tháng 4 thì được hưởng hỗ trợ theo quy định tại Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 và Quyết định 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020. Trường hợp Chủ tịch UBND cấp huyện có quyết định hưởng trợ cấp xã hội từ tháng 5 thì không được hỗ trợ theo quy định tại Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 và Quyết định 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

 

Cũng trong chương trình tập huấn, đại diện Cục bảo trợ xã hội đã thông tin những nội dung dự kiến sửa đổi Nghị định 136/2013/NĐ-CP liên quan đến các nội dung như mở rộng đối tượng, nâng mức thụ hưởng và các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính trong tình hình thực hiện đề án đổi mới hệ thống trợ giúp xã hội và giải đáp về quy trình thực hiện trợ giúp xã hội từ việc xác định đối tượng người khuyết tật, nạn nhân bom mìn, áp dụng chính sách và kiểm tra, giám sát.

Trước đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, ngày 21/10/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Sau gần 8 năm triển khai thực hiện, Nghị định được dư luận xã hội đồng tình, đánh giá cao, coi đó là một chính sách hợp lòng dân, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với một bộ phận dân cư, những người có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn nhất hiện nay, góp phần thực hiện mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước ta trước những tác động bất lợi của suy thoái kinh tế toàn cầu.

Thực hiện Nghị định 136/2013/NĐ-CP, đến cuối năm 2019, cả nước đã có trên 3 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, được hỗ trợ kinh phí chăm sóc và cấp thẻ bảo hiểm y tế; 48.423 đối tượng đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại 432 cơ sở trợ giúp xã hội (trong đó có 182 cơ sở công lập), chiếm khoảng 3% dân số và tăng so với năm 2006. Kinh phí thực hiện trợ giúp xã hội thường xuyên hàng năm là 17.563 tỷ đồng. Ngoài ra, hàng năm, hàng triệu người thiếu lương thực sau thiên tai, giáp hạt, dịp Tết nguyên đán được cứu trợ kịp thời. Giai đoạn 2015- 2020, Trung ương đã hỗ trợ địa phương 313.297 tấn gạo và 2.269 tỷ đồng để cứu trợ đột xuất. Các địa phương cũng đã tổ chức huy động ngân sách địa phương, cộng đồng và các nhà hảo tâm hỗ trợ cho đối tượng hàng ngàn tỷ đồng.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định về chính sách trợ giúp xã hội đã phát sinh một số vấn đề cần nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới. Cụ thể, chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng còn thấp mới chỉ bảo đảm hỗ trợ được một phần nhu cầu thiết yếu, chưa tương đồng với chính sách khác. Trợ cấp xã hội chỉ bằng khoảng 7% thu nhập bình quân, 38% chuẩn nghèo nông thôn. Giai đoạn 2013-2019, tiền lương và trợ cấp người có công với cách mạng đã được điều chỉnh tăng 5 lần trong khi đó mức chuẩn trợ cấp xã hội không được điều chỉnh tăng.

Tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng về phục hồi chức năng cho nạn nhân bom mìn và người khuyết tật

Trong các buổi tập huấn, bên cạnh các thông tin từ đại diện Cục bảo trợ xã hội, ông Nguyễn Trọng Tiến – Nguyên Trưởng Khoa CTXH, Học viện TTNVN, cũng cung cấp các thông tin chi tiết về mô hình PHCN dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) với nạn nhân bom mìn, người khuyết tật.

PHCNDVCĐ là một chiến lược phát triển của cộng đồng nhằm giúp cho người lớn và trẻ em khuyết tật tiếp cận được các dịch vụ về PHCN, bình đẳng về cơ hội và hòa nhập xã hội. PHCNDVCĐ là việc chuyển giao kiến thức về khuyết tật và kỹ năng phục hồi đến tận người khuyết tật tại gia đình và do người khuyết tật, gia đình cùng cộng đồng tiến hành dưới sự hướng dẫn của cán bộ xã hội, y tế địa phương trong việc chăm sóc y tế, giáo dục, nghề nghiệp và các hoạt động xã hội khác. PHCNDVCĐ được thực hiện dựa vào những nỗ lực tổng hợp của bản thân NKT, gia đình NKT, cộng đồng, và các dịch vụ thích hợp về ý tế, giáo dục việc làm và xã hội…

Mục tiêu của PHCNDVCĐ đó là giúp người khuyết tật đạt được sức khỏe tốt nhất có thể; Người khuyết tật tiếp cận với giáo dục và hòa nhập suốt đời, hướng tới hoàn thiện tiềm năng, ý thức về nhân cách, phẩm giá và sự tham gia có hiệu quả vào xã hội; Người khuyết tật được hỗ trợ về sinh kế, được tiếp cận với các biện pháp an sinh xã hội và có thu nhập đủ để sống, có khả năng đóng góp kinh tế cho gia đình và xã hội; Người khuyết tật có khả năng thể hiện rõ vai trò của mình trong gia đình, trong cộng đồng, được đối xử bình đẳng trong xã hội; Người khuyết tật và gia đình của họ có khả năng tự quyết định và tự chịu trách nhiệm cho việc thay đổi cuộc sống và phát triển cộng đồng của mình.

 

 

Ông Tiến đồng thời giới thiệu chi tiết quy trình chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với người khuyết tật là nạn nhân bom mìn bao gồm 4 bước:

Bước 1: Nắm bắt thông tin và phân tích tình trạng người khuyết tật ( NVXH cần cập nhật các nội dung đã triển khai tại phần mềm quản lý NKT bom mìn đã triển khai). Là giai đoạn đầu tiên của quá trình bắt đầu gặp gỡ và làm quen với NKT, trong bước này chúng ta cần lưu ý tới cách thức tiếp nhận NKT. Sau khi tiếp cận xong và nắm khá rõ về tình hình của NKT, cán bộ xã hội cùng tiến hành bàn bạc một số nội dung liên quan đến nguyên tắc làm việc và một số công việc sẽ làm tiếp theo, tất cả những hoạt động này đều được sự thống nhất và tham gia nhiệt tình của NKT.

- Thông tin về người khuyết tật là nạn nhân bom mìn

+ Thông tin cơ bản, bao gồm: Họ và tên, ngày sinh, giới tính, tình trạng hôn nhân, địa chỉ nơi ở, thông tin liên lạc, số chứng minh nhân dân;

+ Nghề nghiệp;

+ Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn;

+ Các dịch vụ và chính sách trợ giúp xã hội mà người khuyết tật đang thụ hưởng;

+ Nhu cầu hỗ trợ theo thứ tự ưu tiên của người khuyết tật;

+ Thu nhập của người khuyết tật.

- Thông tin về khuyết tật

+ Dạng tật, mức độ khuyết tật và nguyên nhân;

+ Khả năng tự phục vụ trong sinh hoạt của người khuyết tật;

+ Hiện trạng về thể chất, tinh thần.

- Thông tin về gia đình người khuyết tật

+ Số thành viên trong gia đình;

+ Hoàn cảnh kinh tế;

+ Nguồn thu nhập chính của gia đình, bao gồm: Khoản thu nhập từ việc làm, chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng và các chương trình trợ giúp xã hội khác;

+ Các khoản chi phí mua lương thực, thức ăn, quần áo, học phí, khám, chữa bệnh, chi khác và khả năng chi trả;

+ Điều kiện chỗ ở và môi trường sống;

+ Khả năng chăm sóc người khuyết tật của gia đình;

+ Nhu cầu cần hỗ trợ theo thứ tự ưu tiên;

+ Thông tin khác nếu có.

Đánh giá nhu cầu của NKT( NVXH cần cập nhật các nội dung đã triển khai tại phần mềm quản lý NKT bom mìn đã triển khai)

- Người cán bộ xã hội đánh giá nhu cầu của người khuyết tật trên các lĩnh vực sau:

+ Hỗ trợ sinh kế;

+ Chăm sóc sức khỏe, y tế;

+ Giáo dục, học nghề, việc làm;

+Mối quan hệ gia đình và xã hội;

+ Các kỹ năng sống;

+ Tham gia, hòa nhập cộng đồng;

+ Tâm lý, tình cảm;

+ Nhu cầu khác.

- Trường hợp người khuyết tật không cung cấp được đầy đủ thông tin, người cán bộ xã hội có trách nhiệm phối hợp với đại diện gia đình hoặc người giám hộ đánh giá nhu cầu của người khuyết tật.

Bước 2: Xây dựng kế hoạch trợ giúp NKT

Dựa trên cơ sở kết luận của bước 1, cán bộ xã hội là người đề xuất và nhóm liên ngành bao gồm những cán bộ thuộc các đơn vị, ngành liên quan dưới sự chủ trì của lãnh đạo cấp xã, phường cùng thảo luận để đưa ra kế hoạch can thiệp. Đồng thời cũng phải dựa trên căn cứ kết quả đánh giá nhu cầu của người khuyết tật theo các tiêu chí sau:

+ Có nhu cầu được trợ giúp liên tục;

+ Có nhu cầu được trợ giúp lâu dài;

+ Tự nguyện tham gia;

+ Đủ điều kiện để nhận dịch vụ tại địa phương.

Xây dựng kế hoạch trợ giúp người khuyết tật

Người cán bộ xã hội chủ trì, phối hợp với người khuyết tật, gia đình hoặc người giám hộ của người khuyết tật và các tổ chức, cá nhân liên quan để xây dựng kế hoạch trợ giúp người khuyết tật. Nội dung kế hoạch trợ giúp người khuyết tật bao gồm:

+ Mục tiêu cụ thể cần đạt được;

+ Các hoạt động cụ thể cần thực hiện theo thứ tự ưu tiên để đạt được mục tiêu;

+ Khung thời gian thực hiện cho từng hoạt động;

+ Nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động được đề ra;

+ Trách nhiệm của tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia và người chịu trách nhiệm cho từng nhiệm vụ;

+ Các đơn vị cung cấp dịch vụ tham gia thực hiện kế hoạch.

Bước 3: Triển khai kế hoạch can thiệp NKT

+ CBXH có trách nhiệm trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội phê duyệt kế hoạch trợ giúp người khuyết tật.

+ CBXH phối hợp với các cơ quan, đoàn thể cấp xã và các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người khuyết tật thực hiện kế hoạch. Các nội dung hỗ trợ gồm:

+ Tư vấn, giới thiệu người khuyết tật tiếp cận các cơ quan, đơn vị chức năng hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, việc làm, giáo dục, xã hội và cơ sở khác;( Nhân viên xã hội thực hiện đầy đủ các nội dung cần thực hiện trong chương trình PHCNDVCĐ đã được nêu rõ ở phần Nội dung của PHCNDVCĐ – mục 2.1 của tài liệu này)

+ Chuyển tuyến, kết nối với các cơ quan, đơn vị chức năng hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, việc làm, giáo dục, xã hội và cơ sở khác đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật;

+ Hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, thụ hưởng các chính sách và chương trình trợ giúp xã hội;

+ Vận động nguồn lực thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật.

+ Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật

+ CBXH có trách nhiệm theo dõi, ghi chép tiến độ và báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật theo định kỳ hàng tháng, hàng quý, 6 tháng và hàng năm;

+ CBXH rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung kế hoạch trợ giúp người khuyết tật cho phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật;

+ Ghi chép tiến độ và tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật
Bước 4: Đánh giá các hoạt động can thiệp

- CBXH đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật theo các nội dung sau đây:

+ Kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật;

+ Mức độ đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật;

+ Khả năng sống độc lập và năng lực hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật;

+ Mức độ phù hợp của các dịch vụ được cung cấp cho người khuyết tật;

+ Khả năng kết nối dịch vụ;

+ Các nội dung khác có liên quan.

- Căn cứ vào kết quả đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật, người CBXH đề xuất kết thúc tiến trình PHCN với người khuyết tật và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội quyết định.

Vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đối với người khuyết tật, nạn nhân bom mìn cũng được thông tin chi tiết.

Các hoạt động cơ bản của PHCNDVCĐ thể hiện trên các lĩnh vực. Để đạt được những mục tiêu đề ra chương trình PHCNDVCĐ phải thực hiện cùng lúc rất nhiều hoạt động. Những hoạt động chính của chương trình được liệt kê cụ thể:

Phục hồi chức năng tại nhà trong đó các nội dung của PHCN, hỗ trợ tại gia đình gồm có: Phát hiện và can thiệp sớm các khuyết tật; Tập các bài tập vận động di chuyển, giao tiếp; Các bài tập trong sinh hoạt hàng ngày; Chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng; Hướng dẫn các công việc nội trợ; Hướng dẫn học hành; Hướng dẫn tham gia các công việc gia đình và xã hội.

Phát triển mạng lưới tuyến: Các tuyến trên giúp đỡ tuyến dưới về kiến thức kỹ năng, các kỹ thuật chuyên khoa. Các tuyến dưới tìm hiểu nhu cầu của NKT khi gặp khó khăn quá khả năng giải quyết thì gửi NKT lên tuyến trên hoặc đề nghị tham vấn.
Sản xuất các sản phẩm PHCN thích nghi: Hướng dẫn cho nhân viên PHCN tại cộng đồng và gia đình làm các dụng cụ PHCN theo kỹ thuật thích nghi. Có thể sử dụng các nguyên liệu sẵn có tại địa phương để chế tạo các dụng cụ PHCN vừa dễ làm giá thành lại rẻ.

 

Nâng cao nhận thức về khuyết tật: Nâng cao nhận thức về khuyết tật cho những người tham gia trong chương trình PHCNDVCĐ để họ góp phần tạo ra một môi trường hỗ trợ cho NKT và tham gia tích cực vào tất cả các hoạt động của chương trình cũng như phòng ngừa khuyết tật.

Hợp tác đa ngành và huy động nguồn lực: PHCNDVCĐ phải được xã hội hóa, do đó cần thiết có sự hợp tác giữa các ban ngành đặc biệt là y tế, giáo dục, thương binh xã hội và các tổ chức phi chính phủ.

Nâng cao năng lực NKT, gia đình, nhân viên PHCN, cán bộ PHCNDVCĐ và cán bộ quản lý ở các tuyến. Tất cả người tham gia vào chương trình cần được đào tạo, tập huấn để có đủ năng lực thực hiện vai trò của mình.

Giúp đỡ NKT trong giáo dục/học hành: Cải thiện điều kiện tiếp cận trường học cho NKT, tăng cường sự tham gia của cha mẹ học sinh trong các nỗ lực đưa trẻ khuyết tật đến trường. Trẻ khuyết tật được nhà trường chấp nhận, thầy cô giáo và bạn bè giúp đỡ. Các trợ giúp học hành tùy theo từng loại khuyết tật.

Trợ giúp hướng nghiệp, dạy nghề, tạo thu nhập cho NKT và gia đình: Tư vấn hướng nghiệp, kinh phí dạy nghề, tiếp cận cơ hội về nguồn vốn để phát triển hoạt động tăng thu nhập, tìm việc làm phù hợp và có thu nhập

Tạo môi trường thích nghi tại nhà và tại cộng đồng: Sửa chữa nhà cửa, đường sá phù hợp điều kiện với khả năng đi lại và sinh hoạt của NKT. Môi trường nơi làm việc và trường học cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp với NKT.

Trợ giúp về pháp lý cho NKT: Vận động và thuyết phục cộng đồng nhằm đảm bảo quyền của NKT được thực hiện một cách bình đẳng

Thành lập và giúp đỡ các nhóm tự lực của NKT: Các nhóm tự lực của NKT ra đời sẽ tăng cường sự tham gia của NKT trong quá trình phát triển PHCNDVCĐ. Các nhóm tự lực của NKT đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự tự tin cho NKT và làm cho cộng đồng quý trọng họ. Ngoài ra, nhóm tự lực NKT còn giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động vận động và thuyết phục cũng như cung cấp nguồn nhân lực thực hiện PHCNDVCĐ.

Tư vấn cho gia đình và NKT: Các nhóm tự lực nhân viên PHCN đóng vai trò tư vấn về chăm sóc y tế, PHCN, các dịch vụ xã hội và hỗ trợ tinh thần cho NKT cũng như tham gia chuyển tuyến khi cần thiết trong hoạt động PHCNDVCĐ.

Tổ chức các dịch vụ: Các dịch vụ y tế; Các dịch vụ văn hóa giáo dục; Các dịch vụ vui chơi giải trí…

Bên cạnh đó, tại các buổi tập huấn ở Bình Định và Quảng Bình, đại diện Cục Bảo trợ xã hội cũng đã có các hướng dẫn chi tiết về nghiệp vụ, kỹ năng phục hồi chức năng trợ giúp nạn nhân bom mìn và NKT nhằm giúp cán bộ địa phương, các cộng tác viên công tác xã hội có thêm cơ hội để nắm bắt rõ hơn về các khái niệm về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, sử dụng tốt các kỹ thuật thích hợp để biến kiến thức và kỹ năng phục hồi chức năng áp dụng ngay tại cộng đồng, để NKT được bình đẳng, hòa nhập trong xã hội, và có thể áp dụng được nhu cầu của phục hồi chức năng cho 70% NKT.

Đại diện Cục Bảo trợ xã hội cho biết, quyền của NKT được quy định trong Luật NKT và hơn 24 văn bản luật khác. Nhà nước cũng tạo điều kiện để NKT được học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng, được miễn giảm môn học, học phí, chi phí đào tạo cùng các khoản đóng góp khác, NKT được hỗ trợ phương tiện, học bổng, đồ dùng học tập. NKT cũng được nhận trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí mai táng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng ngay cả những đối tượng sau khi nhận chi trả hỗ trợ theo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg mà sau đó qua đời thi sẽ không thu hồi kinh phí hỗ trợ những tháng còn lại.

Thông qua các buổi tập huấn, về cơ bản đại diện Cục Bảo trợ Xã hội đã cung cấp thêm rất nhiều thông tin rất hữu ích giúp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức, người lao động làm việc tại cơ sở và làm việc tại xã, phường, thị trấn, cộng tác viên công tác xã hội về nghiệp vụ quản lý đối tượng, đồng thời giải đáp các câu hỏi, vướng mắc liên quan đến chuyên môn để từ đó cán bộ trực tiếp thực hiện trợ giúp xã hội có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng mới giúp đỡ, giảm đi khó khăn, hỗ trợ đời sống cho các nạn nhân bom mìn và NKT tại địa bàn của mình.

Theo số liệu Điều tra Quốc gia về người khuyết tật của Tổng cục thống kê đầu năm 2017, công bố năm 2019 thì cả nước có khoảng 6,2 triệu NKT, trong đó có 670.000 người là trẻ em từ 2 đến 17 tuổi và 5,5 triệu người từ 18 tuổi trở lên. Một số tổ chức quốc tế như UNDP, ILO, UNICEF thống kê rằng số lượng NKT chiếm khoảng 12-15% dân số Việt Nam.

Đặc biệt những nơi bị chiến tranh tàn phá khốc liệt nhất là hai tỉnh Quảng Bình và Bình Định. Tại đây số lượng NKT là 75.000 người, trong đó NKT là nạn nhân bom mìn do chiến tranh gây ra: 9.100 người. Các nạn nhân bom mìn có độ tuổi từ 60 – 79 tuổi (số liệu được công bố bởi Cục Bảo trợ xã hội vào đầu năm 2020 tại Hà Nội).

Tính đến tháng 12/2019, trong số 3.01 triệu đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội có khoảng 1,120 triệu người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Hiện nay phổ biến với mức 405.000 đồng và 540.000 đồng. Ngoài ra còn khoảng 1,6 triệu người cáo tuổi trên 80 tuổi, người đơn thân, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, 110.000 đồi tượng đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội.

Others